Chuyển đến nội dung chính

Nguyên nhân của hẹp ống sống là gì ?

Hẹp ống sống bẩm sinh là hiện tượng hẹp ống sống ngay từ khi sinh ra đã có và người ta cho rằng nó là do sự thiếu hụt từ khi sinh. Điều này có nghĩa là có một vài người khi sinh ra đã có ống sống hẹp hơn so với đa phần những người còn lại, nhưng nó không biểu hiện triệu chứng cho tới sau này. 

Đây là một dạng hẹp ống sống di truyền, về mặt chuyên môn được gọi là hội chứng cuống của đốt sống bị ngắn. Hẹp ống sống bẩm sinh không gặp nhiều, đặc biệt khi chúng ta so sánh với hẹp ống sống mắc phải.

Hẹp ống sống mắc phải là kết quả của bệnh hoặc do những tổn thương, chấn thương tới cột sống. Nguyên nhân hàng đầu của hẹp ống sống mắc phải là do sự bào mòn, sự rách, tổn thương cột sống do sự lão hóa. Trong thực tế, nguyên nhân trực tiếp, phổ biến nhất của hẹp ống sống mắc phải là bệnh viêm xương khớp cột sống, bệnh này làm cho lớp sụn phủ bề mặt các diện khớp bị lão hóa.

Ở người trẻ, lớp sụn khớp này nhẵn. Khi chúng ta ngày càng trở nên già đi, lớp sụn này trở nên gồ ghề hoặc bị bào mòn hoàn toàn làm cho xương các khớp cột sống bị chà xát trực tiếp lên nhau. Cơ thể phản ứng lại sự chà xát này bằng cách tạo ra quá trình hình thành và phát triển các xương nhỏ, mà chúng ta hay gọi là mỏ xương hay gai xương. 

Điều này làm giới hạn vận động và như vậy nó sẽ có tác dụng giảm đau do các xương bị chà xát lên nhau. Mặc dù, đúng là nếu chúng ta càng ít vận động thì sẽ càng ít khả năng gây đau. Tuy nhiên, chúng ta không thể ngừng hoạt động hoàn toàn và càng ít vận động thì chất lượng cuộc sống càng giảm. 

Nguyên nhân của hẹp ống sống là gì ?
Nguyên nhân của hẹp ống sống là gì ?


Hơn nữa, những mỏ xương này có thể tạo ra những loại đau khác: những mỏ xương phát triển qua năm tháng, chúng dần dần chèn ép vào ống sống, rồi đến một thời điểm nó bó chặt lại tủy sống, hoặc bó chặt các dây thần kinh, khi đó nó gây nên các triệu chứng của bệnh hẹp ống sống.

Hẹp ống sống mắc phải có thể là do các vấn đề đĩa đệm cột sống. Đĩa đệm có thể bị phình, bị vỡ hoặc bị rách. Khi một đĩa đệm bị phình hoặc các mảnh vỡ từ đĩa đệm sau đó có thể chèn vào ống sống hoặc bóp nghẹt vào rễ thần kinh ở vị trí lỗ liên hợp (nơi rễ thần kinh thoát ra ngoài khỏi cột sống). Những dây chằng nối giữa các đôt sống cũng có thể bị thoái hóa và làm cho các đôt sống bị trượt so với nhau và sau đó làm bóp nghẹt vào tủy sống hoặc các rễ thần kinh.

Những yếu tố nguy cơ của bệnh lý viêm xương khớp và các bệnh lý của đĩa đệm là tuổi, sai tư thế, những môn thể thao đối kháng mạnh và bê vật quá nặng.

Chấn thương cột sống cũng có thể gây hẹp ống sống. Ví dụ như khi chúng ta bê vật nặng mà không sử làm đúng kỹ thuật, điều này làm phá hủy đĩa đệm hoặc thậm chí làm di chuyển các đốt sống ra khỏi vị trí bình thường của nó. Những chấn thương này sẽ chèn ép lên tủy sống và các rễ thần kinh. Cột sống cũng có thể bị gãy một phần nào đấy và những mảnh vỡ này có thể xâm phạm vào cột sống.

Bất kỳ tổn thương nào tới cột sống cũng có thể gây sưng nề phần mềm quanh cột sống và sự sưng nền này lại tạo nên sự bóp nghẹt vào thần kinh từ đó tạo nên vòng xoắn bệnh lý dẫn tới những triệu chứng của hẹp ống sống, đau lưng hoặc đau cổ.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nguy cơ loãng xương ở lứa tuổi mãn kinh

Bệnh loãng xương ở lứa tuổi mãn kinh thường coi là bệnh lý ở phụ nữ lớn tuổi nhưng thực tế là loãng xương bắt đầu từ giai đoạn sớm hơn. Phụ nữ có mật độ xương ở mức cao nhất ở lứa tuổi 30 và họ cần phải có đủ lượng canxi để tạo xương và duy trì sức khỏe ở giai đoạn còn lại.  Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ bệnh loãng xương trong phụ nữ da trắng sau mãn kinh vào khoảng 14% ở độ tuổi từ 50 – 59, 22% trong độ tuổi từ 60 – 69, 39% trong độ tuổi từ 70 – 79 và 70% ở độ tuổi từ 80 trở lên. Nguyên nhân loãng xương là gì? Loãng xương là do mất cân bằng chu trình tạo xương của cơ thể. Trong suốt cuộc đời, cơ thể chúng ta đào thải xương già và tái tạo xương mới trong chu trình liên tục. Cho đến giữa những năm của độ tuổi 30 xương vẫn tiếp tục phát triển, cơ thể tạo xương nhiều hơn là mất, sau đó quá trình tiêu xương và tạo xương diễn ra cân bằng. Nhưng đến thời kỳ mãn kinh thì thì cân bằng này bị phá vỡ, thay đổi hoóc môn trong cơ thể làm cho mất xương nhanh hơn tạo xương. ...

Những dạng ung thư xương thường gặp

Ung thư xương là bệnh lý hình thành các khối u ác tính trong xương. Đây là loại ung thư có tốc độ phát triển và di căn rất nhanh nhưng không có biểu hiện ra bên ngoài.  U xương ác tính: là loại ung thư xương hay gặp nhất, chủ yếu xảy ra ở nam giới thuộc nhóm tuổi từ 10 – 25, ít phổ biến hơn ở người lớn tuổi. Bệnh u xương ác tính thường gặp ở những xương dài ở cánh tay hoặc chân hay tại những khu vực xương tăng trưởng nhanh xung quanh vai và đầu gối ở thanh thiếu niên. U xương ác tính cũng là loại ung thư có nguy cơ di căn tới phổi rất cao. Chondrosarcoma: là khối u xương phổ biến thứ hai sau u xương ác tính, chiế khoảng 25% trong tổng số các ca bệnh mắc ung thư xương. Những khối u loại này xuất hiện nhiều ở tế bào sụn và có tốc độ phát triển nhanh hoặc chậm không đồng nhất. Tuy nhiên, không giống như những loại ung thư xương khác, sarcoma sụn lại hay gặp ở những người trên 40 tuổi. Bệnh chondrosarcoma khá phổ biến ở nam giới và dễ lây lan tới các hạch bạch huyết và phổi....

Thực phẩm cho người ung thư cột sống

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, mỗi tuần bệnh nhân ung thư xương cột sống nên ăn ít nhất từ 2 – 4 bữa cá như cá hồi, cá bơn, cá thu hay cá ngừ để cung cấp đầy đủ Omega-3 cho cơ thể, giúp giảm đáng kể tình trạng đau đớn do khối u gây ra. Cá là loại thực phẩm cho người ung thư cột sống chứa hàm lượng cao các acid béo Omega-3 nên có thể giúp giảm viêm, giảm đau hiệu quả do khối u cột sống gây ra. Vì thế, nếu thêm cá vào chế độ ăn uống của mình thì bạn có thể giảm đáng kể những cơn đau đớn do ung thư cột sống gây ra.  Nếu bệnh nhân ung thư cột sống không thể ăn nhiều cá thì có thể bổ sung Omega-3 từ các loại dầu cá nhưng cần có sự hướng dẫn chi tiết của các bác sĩ chuyên khoa để đạt hiệu quả tốt nhất và tránh những biến chứng khó lường có thể xảy ra nếu sử dụng không đúng liều lượng quy định. Ngoài ra, bệnh nhân ung thư cột sống còn được khuyên là nên sử dụng nhiều các loại thực phẩm giàu vitamin B1 như gạo, gạo nâu, kê, lúa mạch, lúa mì, các loại sữa,… trong bữa ăn hằng...